Nuôi cá mú lồng bè mang lại giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi kỹ thuật nghiêm ngặt để tránh dịch bệnh. Bài viết hướng dẫn chi tiết quy trình kỹ thuật nuôi cá mú lồng bè từ chọn giống đến chăm sóc, giúp tối ưu chi phí và đạt năng suất cao.
Chọn vị trí nuôi lồng
Vị trí tốt cho nuôi lồng cá lồng, cần đủ độ sâu và bảo đảm đáy lồng cách đáy biển lúc triều thấp ít nhất 2 – 3 m; tốc độ chảy thích hợp từ 0,2 – 0,6 m/giây; nền đáy là đáy cát hay sỏi; đảm bảo hàm lượng ôxy từ 4 – 6 mg/lít, nhiệt độ 25 – 300C và độ mặn từ 27 – 33‰.
Tránh những nơi có sóng to, gió lớn như sóng cao trên 2 m và tốc độ dòng chảy 1 m/giây vì có thể làm hư hỏng lồng, trôi thức ăn, làm cho cá hoạt động yếu gây chậm lớn và sinh bệnh; nơi có nhiều rong biển, cỏ biển hay san hô; nơi nước chảy quá yếu hay nước đứng vì có thể dẫn đến cá chết do thiếu ôxy, thức ăn thừa, mùn bã cũng tích lũy ở đáy lồng gây ô nhiễm; đặc biệt cần tránh xa những nơi gây ô nhiễm dầu, ô nhiễm chất thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt và tàu bè.
Thiết kế lồng
Lồng truyền thống: Thông thường một giàn lồng được thiết kế gồm nhiều ô lồng nhỏ, mỗi ô lồng có kích cỡ 3 x 3 x 3 m hay 5 x 5 x 4 (m). Như thế sẽ thuận lợi cho việc phân cỡ và thả giống được đồng loạt cho từng lồng riêng, đồng thời để trống một lồng không nuôi cá với mục đích thay lồng khi xử lý bệnh cá hay xử lý rong tảo bám quanh lồng.
Mặc dù có thể sử dụng các vật liệu rẻ tiền như tre, gỗ… để làm lồng như nhiều nơi trước đây, song sẽ dễ bị hư hỏng. Vì thế, chỉ nên làm khung trên lồng bằng gỗ với kích cỡ thông thường loại 8 x 15 cm.
Khung đáy lồng dùng bằng ống nước đường kính 15/21 và được mạ kẽm để tăng tuổi thọ lồng. Lưới lồng tốt nhất nên là Polyetylen không gút, hay cũng có thể thay thế bằng Polyamide. Kích thước mắt lưới có thể thay đổi tùy vào kích cỡ cá nuôi. Cỡ cá 1 – 2 cm dùng mắt lưới 0,5 cm, cỡ cá 5 – 10 cm dùng mắt lưới 1 cm; cỡ cá 20 – 30 cm dùng mắt lưới 2 cm và cỡ cá trên 25 cm dùng mắt lưới 4 cm.
Để giữ bè nổi, dùng phao bằng thùng nhựa (1 x 0,6 m) hay thùng phuy được sơn kỹ và bố trí nâng khung gỗ. Số lượng phao có thể thay đổi tùy theo lồng, bè nuôi có thể có nhà hoặc không. Cố định hay lồng dây treo để tránh bị nước cuốn trôi. Số lượng neo thường 4 cái và dây neo lớn đường kính = 24 mm với chiều dài khoảng 30 – 50 m.
Ngoài ra ở các vùng cạn ven bờ có thể phát triển kiểu lồng cố định bằng cách dùng lưới và cọc gỗ bao quanh khu nuôi.
Lồng HDPE: Là loại nhựa nhiệt dẻo làm từ dầu mỏ, cấu trúc phân tử mật độ cao nên dày, cứng, chống chịu va đập, kéo căng tốt hơn so với nhựa PE (Polyethyene) thông thường, đồng thời chống lại sự hòa tan, ăn mòn bởi hóa chất, tác nhân môi trường khác. Lồng nuôi HDPE có các dạng như: Hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật.
Nguồn giống nuôi
Tốt nhất là chọn nguồn giống sinh sản nhân tạo ở các trại cá uy tín (đồng kích cỡ, đủ số lượng), hạn chế chọn cá từ nguồn khai thác tự nhiên.
Lựa chọn con giống có thân hình thuôn dài, cân đối. Không dị hình, dị tật. Không bị xây xát và không có dấu hiệu bệnh lý.
Cá giống đồng đều về kích thước, hơn kém nhau không quá 2 cm. Cá khỏe mạnh, bơi quấn theo đàn trong bể, lồng lưu giữ giống.
Chọn cá giống có kích cỡ càng lớn càng tốt vì cá giống càng lớn thì tỷ lệ hao hụt càng ít. Tùy điều kiện có thể lựa chọn theo 2 loại kích cỡ sau: Cỡ giống nhỏ (kích thước 10 – 12 cm) và cỡ giống lớn (kích thước 15 – 20 cm).
Thuần hóa cá giống nhằm nâng cao tỷ lệ sống, tránh cá bị sốc do môi trường chủ yếu liên quan đến 2 yếu tố là nhiệt độ và độ mặn. Hai hình thức vận chuyển phổ biến hiện nay là vận chuyển kín bằng bao nilon chứa ôxy và vận chuyển hở bằng thùng vận chuyển chuyên dụng.
Cá mú là đối tượng thủy sản cho giá trị kinh tế rất cao. Ảnh: Tép bạc
Thả cá giống
Thời điểm thả cá giống phải phù hợp với mùa vụ con giống và thời tiết, khí hậu. Mùa vụ thả cá mú thường từ tháng 4 – 6 ở miền Bắc và quanh năm ở miền Nam.
Mật độ thả phụ thuộc vào kích cỡ cá giống và điều kiện nhiệt độ nuôi. Ở các vùng phía Bắc có nhiệt độ thấp có thể thả với mật độ 40 – 60 con/m3 lồng với cỡ cá 10 – 12 cm; cỡ giống 100 – 150 g/con, thả 20 – 30 con/m3. Ở những vùng có nhiệt độ cao hơn như miền Trung và miền Nam thường thả thưa hơn với mật độ 15 – 25 con/m3 lồng kích cỡ cá 10 – 12 cm.
Chọn cá cùng cỡ thả vào một lồng để tránh cạnh tranh mồi và ăn thịt lẫn nhau.
Khi thả cá cần ngâm túi cá trong lồng chuẩn bị nuôi khoảng 15 – 20 phút để cân bằng nhiệt độ trong túi với môi trường. Sau đó mở miệng túi cho nước tràn vào từ từ, nghiêng túi cho cá bơi dần ra ngoài. Không mở túi đổ cá ngay ra lồng, cá sẽ bị sốc. Khi thả cá cần thao tác nhẹ nhàng, trường hợp cá yếu do vận chuyển, nên nhốt riêng cá trong thùng có sục khí cho đến khi cá hoạt động bình thường mới thả.
Thả cá giống vào lúc trời mát, sáng sớm 6 – 8 giờ hoặc chiều muộn 16 – 17 giờ.
Thức ăn
Thức ăn cho cá nuôi chủ yếu là các loại cá tạp và thức ăn viên công nghiệp có hàm lượng protein từ 38 – 47% và lipid là 9% (Giri et al., 2004; Giri et al., 2007). Khi cho cá ăn bằng cá tạp, nên chọn cá tươi, sạch để tránh gây bệnh cho cá nuôi. Trước khi cho cá ăn cần loại bỏ các sinh vật ký sinh trên cá tạp bằng cách ngâm trong nước ngọt. Tùy vào kích cỡ cá có thể cho ăn cá tạp xay nhuyễn hay cắt khúc.
Cá được cho ăn 1 – 2 lần/ngày, định kỳ bổ sung Vitamin C cho cá ăn 2 – 3 lần/tuần và lượng Vitamin C dao động từ 3 – 5 g/kg thức ăn (thức ăn trộn với Vitamin C và áo dầu mực bên ngoài).
Chăm sóc
Theo dõi hoạt động của cá hằng ngày, nếu cá có dấu hiệu cọ vào lưới hoặc nổi lờ đờ trên mặt và tập trung vào những nơi có nhiều ôxy thì cần bắt cá để kiểm tra các loài giáp xác ký sinh hay ký sinh trùng.
Tốt nhất nên định kỳ tắm cá 15 – 20 ngày/lần nhằm ngăn ngừa bệnh ký sinh trên cá nuôi. Các loại hóa chất có thể tắm cá như: formalin 30 ppm trong 30 phút; hydrogen hydroxide (H2O2) 30 ppm trong 30 phút hoặc có thể tắm bằng nước ngọt 3 – 5 phút. Việc xử lý cá phải được thực hiện cẩn thận để hạn chế gây sốc cá.
Ngoài ra, trong quá trình nuôi cần phải thường xuyên theo dõi lồng, đề phòng lồng bị hư hỏng do cá hay sinh vật khác như cua cắn phá lưới hoặc do sóng gió. Ngoài ra lồng cũng dễ bị các sinh vật khác bám vào làm nước không lưu thông. Vì vậy cần cọ rửa hay thay lồng định kỳ. Phân cỡ và điều chỉnh mật độ cá nuôi định kỳ mỗi tháng một lần.
Thu hoạch
Tùy theo kích cỡ cá giống nuôi, sau 3 tháng có thể thu tỉa những con lớn. Sau 6 – 12 tháng, hầu hết cá đạt khối lượng 0,5 – 0,8 kg thì thu hoạch đồng loạt.
Thanh Hiếu
Nguồn: thuysanvietnam.com.vn