Hoàn thiện công nghệ, tạo đột phá cho nghề nuôi sá sùng

Từ một đặc sản hoàn toàn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, sá sùng đang đứng trước cơ hội trở thành đối tượng nuôi thương phẩm quy mô lớn tại Quảng Ninh. Từng bước hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và quy trình nuôi không chỉ góp phần bảo tồn nguồn lợi biển mà còn mở ra hướng phát triển ngành hàng thủy sản giá trị cao, tạo sinh kế bền vững cho người dân.

Từ lâu, sá sùng được ví như “lộc biển” của Quảng Ninh nhờ giá trị kinh tế cao và được thị trường trong, ngoài nước ưa chuộng. Tuy nhiên, nhiều năm khai thác tự nhiên đã khiến nguồn lợi loài đặc sản này suy giảm, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chủ động nguồn giống và phát triển nuôi thương phẩm. Trước thực tế đó, việc hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi sá sùng quy mô hàng hóa đang mở ra hướng đi mới cho ngành thủy sản địa phương.

Đoàn công tác đánh giá kết quả nuôi thương phẩm sá sùng trong ao tại xã Quảng Tân. Ảnh: Sở KH&CNQN

Ngày 19/6, Đoàn công tác của Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh, cùng đại diện UBND đặc khu Vân Đồn và UBND xã Quảng Hà đã kiểm tra thực địa, đánh giá tiến độ thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm sá sùng (Sipunculus nudus) quy mô hàng hóa tại Quảng Ninh” do Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật và Thủy sản (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chủ trì thực hiện.

Qua kiểm tra, đoàn công tác đánh giá nhiệm vụ được triển khai cơ bản đúng tiến độ, nhiều nội dung nghiên cứu đã đạt kết quả tích cực, tạo nền tảng quan trọng để từng bước hình thành nghề nuôi sá sùng thương phẩm quy mô lớn tại Quảng Ninh.

Nhiệm vụ được triển khai theo Quyết định số 2208/QĐ-UBND ngày 3/8/2023 của UBND tỉnh Quảng Ninh, với mục tiêu hoàn thiện quy trình công nghệ khép kín từ sản xuất giống, ương nuôi đến nuôi thương phẩm sá sùng trong điều kiện sản xuất hàng hóa. Đến nay, nhóm nghiên cứu đã hoàn thành quy trình kỹ thuật ương giống lên cấp II, nghiên cứu kỹ thuật nuôi thương phẩm trong ao và xây dựng dự thảo quy trình nuôi thương phẩm.

Sá sùng được đào tại mô hình trong bãi triều xã Quảng Hà. Ảnh: Sở KH&CNQN

Tại cơ sở nghiên cứu ở phường Đông Mai, các chuyên gia đã từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống nhân tạo sá sùng. Các yếu tố về nhiệt độ, độ mặn, môi trường và thức ăn được kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm con giống có tỷ lệ sống cao và khả năng sinh trưởng tương đương ngoài tự nhiên.

Từ kết quả nghiên cứu, đơn vị đã xây dựng được đàn giống ổn định, đủ điều kiện cung cấp cho các mô hình nuôi thương phẩm tại những địa phương có điều kiện sinh thái phù hợp như Hải Hà, Đầm Hà, Vân Đồn và Tiên Yên.

Theo ông Nguyễn Văn Tuấn, cán bộ Trường Cao đẳng Kinh tế – Kỹ thuật và Thủy sản, chủ nhiệm nhiệm vụ, đơn vị hiện đã có khả năng sản xuất giống sá sùng ở quy mô hàng hóa. Ông cho biết, mỗi năm đơn vị có thể sản xuất từ 400.000-500.000 con giống, thậm chí có thể đạt quy mô hàng triệu con, tạo tiền đề quan trọng để chủ động nguồn giống phục vụ phát triển nghề nuôi.

Các nhà khoa học nhận định, đây được xem là bước đột phá lớn bởi trước đây nguồn giống hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên, gây nhiều khó khăn cho việc mở rộng sản xuất cũng như công tác bảo tồn nguồn lợi. Song song với nghiên cứu sản xuất giống, dự án cũng triển khai các mô hình nuôi thương phẩm tại ao và bãi triều nhằm đánh giá khả năng thích nghi của sá sùng trong điều kiện sản xuất thực tế.

Đến thời điểm kiểm tra, mô hình nuôi trong ao với quy mô 300.000 con và mô hình nuôi trên bãi triều 40.000 con đều sinh trưởng tốt sau sáu tháng triển khai. Sá sùng đạt chiều dài trung bình từ 3,79-4,06 cm, đáp ứng yêu cầu theo dõi của nhiệm vụ.

Kiểm tra chiều dài của sá sùng. Ảnh: Sở KH&CNQN

Theo kế hoạch, nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện ba quy trình kỹ thuật gồm sản xuất giống, ương giống cấp II và nuôi thương phẩm trong ao. Khi hoàn thành, mô hình nuôi ao được kỳ vọng đạt năng suất 3-4 tấn/ha, trong khi mô hình nuôi bãi triều đạt 600-800 kg/ha. Thời gian nuôi khoảng 15 tháng, sản phẩm thu hoạch đạt kích cỡ 80-120 con/kg, đáp ứng nhu cầu chế biến và tiêu thụ trên thị trường.

Sau khi nhiệm vụ được nghiệm thu, cơ quan quản lý sẽ xem xét công nhận các quy trình kỹ thuật, đồng thời tổ chức tập huấn, chuyển giao công nghệ cho cán bộ kỹ thuật và người dân nhằm nhân rộng mô hình.

Theo đoàn kiểm tra, trong giai đoạn tiếp theo, đơn vị chủ trì cần tiếp tục bám sát hiện trường, phối hợp với chính quyền địa phương hướng dẫn người dân thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, ghi chép đầy đủ nhật ký sản xuất và chủ động các giải pháp ứng phó khi thời tiết diễn biến bất thường.

Quá trình triển khai nhiệm vụ từng gặp không ít khó khăn khi bão Yagi năm 2024 gây thiệt hại nhiều ao nuôi và con giống. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ của tỉnh Quảng Ninh cùng nỗ lực của nhóm nghiên cứu, các mô hình đã được phục hồi, nhiều chỉ tiêu kỹ thuật tiếp tục đạt yêu cầu và sẵn sàng bước vào giai đoạn đánh giá, nghiệm thu.

Không chỉ giới nghiên cứu, nhiều doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng bày tỏ sự quan tâm đối với nghề nuôi sá sùng. Ông Phạm Quang Tùng, Giám đốc Công ty TNHH Thanh Tùng Vân Đồn cho rằng, việc làm chủ công nghệ sinh sản và nuôi thương phẩm sẽ giúp Quảng Ninh chủ động vùng nguyên liệu, đáp ứng nhu cầu chế biến sâu và mở rộng chuỗi giá trị đối với một đặc sản có giá trị kinh tế cao.

Theo các chuyên gia, việc hoàn thiện công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm sá sùng không chỉ góp phần bảo tồn nguồn lợi thủy sản bản địa, giảm áp lực khai thác tự nhiên mà còn tạo điều kiện hình thành một ngành hàng mới có giá trị gia tăng cao cho kinh tế biển Quảng Ninh.

Đây cũng là minh chứng cho vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp, thủy sản theo hướng hiện đại, phù hợp với chủ trương thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế biển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương.

Người dân đánh bắt sá sùng tại ao thuộc mô hình xã Quảng Tân. Ảnh: Sở KH&CNQN

Khi chủ động được nguồn giống, hoàn thiện quy trình kỹ thuật và từng bước hình thành vùng nuôi tập trung, sá sùng không chỉ tiếp tục khẳng định vị thế là đặc sản nổi tiếng của Quảng Ninh mà còn có cơ hội trở thành đối tượng nuôi thương phẩm quy mô hàng hóa, góp phần đa dạng hóa sản phẩm thủy sản, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân vùng ven biển.

Nguyệt An
Nguồn: thuysanvietnam.com.vn

popup

Số lượng:

Tổng tiền:

Email Gọi ngay Facebook
Facebook Chat Icon Xin chào!
Mình có thể giúp gì bạn
hiephoinuoibienvietnam